Sở hữu trí tuệ21 tháng 8, 2026

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Cách xác định & Ví dụ

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là việc sử dụng đối tượng đang được bảo hộ mà không được phép của chủ thể quyền. Bài viết trình bày căn cứ xác định và các nhóm hành vi theo từng đối tượng, dựa trên Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 65/2023/NĐ-CP.

Luật sư Đỗ Khánh Linh — Giám đốc LTV Law
Kiểm duyệt bởi Luật sư Đỗ Khánh Linh — Giám đốc, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội
Cập nhật 21 tháng 8, 2026
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Cách xác định & Ví dụ
Mục lục bài viết

Khi phát hiện một sản phẩm mang dấu hiệu giống nhãn hiệu của mình, hay một bài viết bị sao chép nguyên văn, nhiều chủ thể quyền băn khoăn không biết đó đã là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hay chưa. Việc xác định đúng bản chất hành vi là bước đầu tiên, và cũng là bước quan trọng nhất, trước khi quyết định gửi thư cảnh báo, yêu cầu cơ quan chức năng xử lý hay khởi kiện. Bài viết này trình bày khái niệm, các căn cứ xác định và những nhóm hành vi xâm phạm theo từng đối tượng, dựa trên Luật Sở hữu trí tuệ (văn bản hợp nhất, đã sửa đổi năm 2022) và Nghị định 65/2023/NĐ-CP, để bạn tham khảo.

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là gì?

Hiểu một cách khái quát, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là việc một người sử dụng đối tượng đang được bảo hộ mà không được phép của chủ thể quyền và không thuộc các trường hợp ngoại lệ hoặc giới hạn quyền do pháp luật quy định. Ba yếu tố này gắn liền với nhau: phải có một đối tượng đang được bảo hộ, phải có hành vi sử dụng đối tượng đó, và hành vi sử dụng phải nằm ngoài phạm vi được phép.

Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ rất đa dạng, bao gồm tác phẩm và các đối tượng của quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, giống cây trồng. Mỗi nhóm đối tượng có phạm vi bảo hộ và tiêu chí đánh giá xâm phạm riêng, vì vậy không thể áp dụng một công thức chung cho mọi trường hợp. Điều cần lưu ý là chỉ khi quyền đang thực sự có hiệu lực bảo hộ tại Việt Nam thì mới có thể nói đến việc bị xâm phạm.

Căn cứ xác định một hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Theo hướng dẫn tại Nghị định 65/2023/NĐ-CP, để kết luận một hành vi bị xem xét có phải là hành vi xâm phạm hay không, cần đánh giá đồng thời bốn căn cứ sau đây. Chỉ khi cả bốn căn cứ đều thỏa mãn thì hành vi mới bị coi là xâm phạm.

Thứ nhất, đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi bảo hộ của một quyền sở hữu trí tuệ đang có hiệu lực. Chẳng hạn, nhãn hiệu vẫn còn trong thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký, sáng chế còn trong thời hạn của Bằng độc quyền, tác phẩm vẫn còn trong thời hạn bảo hộ. Nếu quyền đã hết hiệu lực, đã bị hủy bỏ hoặc chưa từng được xác lập thì không có cơ sở để nói về hành vi xâm phạm.

Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét. Yếu tố xâm phạm là dấu hiệu, bản sao hoặc bộ phận thể hiện sự trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với đối tượng đang được bảo hộ. Đây là nội dung then chốt và thường phải so sánh, đối chiếu kỹ lưỡng.

Thứ ba, người thực hiện hành vi không phải là chủ thể quyền và không phải là người được pháp luật hoặc chủ thể quyền cho phép. Người được cấp li-xăng, người sử dụng theo quyết định bắt buộc chuyển giao quyền, hay người thuộc trường hợp được pháp luật cho phép sẽ không bị coi là xâm phạm.

Thứ tư, hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam. Hành vi diễn ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tại Việt Nam cũng được coi là xảy ra tại Việt Nam. Đây là điểm đáng chú ý trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển.

Hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan

Đối với quyền tác giả và quyền liên quan, các hành vi xâm phạm được quy định tại Điều 28 và Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ. Điểm chung là việc khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền và không thuộc trường hợp được pháp luật cho phép.

Một số dạng thường gặp gồm: sao chép tác phẩm mà không được phép; phân phối, nhập khẩu bản sao tác phẩm mà không được phép; truyền đạt, đăng tải tác phẩm lên mạng cho công chúng mà không được phép; làm tác phẩm phái sinh mà không xin phép; mạo danh tác giả; công bố, sửa chữa, cắt xén tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Đây là nhóm quyền có phạm vi rộng và dễ bị xâm phạm nhất trên môi trường số. Nếu bạn cần tìm hiểu thêm về việc xác lập quyền để có căn cứ bảo vệ, có thể tham khảo dịch vụ đăng ký bản quyền tác giả.

Hành vi xâm phạm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí

Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, hành vi xâm phạm được quy định tại Điều 126 Luật Sở hữu trí tuệ. Về bản chất, đó là việc sử dụng đối tượng đang được bảo hộ trong thời hạn hiệu lực mà không được phép của chủ sở hữu.

Hành vi sử dụng ở đây được hiểu rộng, bao gồm sản xuất sản phẩm được bảo hộ; áp dụng quy trình được bảo hộ; khai thác công dụng của sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ; lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông; và nhập khẩu sản phẩm đó. Với kiểu dáng công nghiệp, hành vi xâm phạm là sản xuất, bán, nhập khẩu sản phẩm mang kiểu dáng trùng hoặc không khác biệt đáng kể so với kiểu dáng đang được bảo hộ. Việc so sánh phải căn cứ vào yêu cầu bảo hộ của sáng chế hoặc bộ ảnh chụp, bản vẽ của kiểu dáng đã được cấp bằng. Để chủ động xác lập quyền, bạn có thể tham khảo dịch vụ đăng ký sáng chếđăng ký kiểu dáng công nghiệp.

Hành vi xâm phạm nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý

Đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý, hành vi xâm phạm được quy định tại Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ. Với nhãn hiệu, cốt lõi là việc sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đang được bảo hộ, cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự, mà không được phép của chủ sở hữu.

Một số dạng cụ thể gồm: sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng; sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn về nguồn gốc; và sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ nếu gây nhầm lẫn hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối liên hệ với chủ nhãn hiệu nổi tiếng. Với tên thương mại, hành vi xâm phạm là sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh. Với chỉ dẫn địa lý, đó là việc sử dụng chỉ dẫn cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý tương ứng, gây hiểu sai về xuất xứ. Việc phân định trùng hay tương tự gây nhầm lẫn thường không đơn giản; bạn có thể tham khảo thêm về việc xác lập quyền qua dịch vụ đăng ký nhãn hiệu.

Yếu tố xâm phạm và vai trò của giám định sở hữu trí tuệ

Như đã nêu, có yếu tố xâm phạm là một trong bốn căn cứ bắt buộc. Yếu tố xâm phạm được nhận diện bằng cách so sánh đối tượng bị xem xét với phạm vi bảo hộ của quyền. Việc so sánh này dựa trên các tài liệu xác lập quyền, cụ thể như bảng dưới đây.

Đối tượngNhóm hành vi xâm phạm điển hìnhCăn cứ so sánh yếu tố xâm phạm
Quyền tác giả, quyền liên quanSao chép, phân phối, truyền đạt, đăng tải tác phẩm; làm tác phẩm phái sinh; mạo danh tác giả; xuyên tạc, cắt xén tác phẩm mà không được phépTác phẩm gốc, bản ghi, chương trình phát sóng đang được bảo hộ
Sáng chếSản xuất, sử dụng, chào bán, lưu thông, nhập khẩu sản phẩm hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ mà không được phépPhạm vi yêu cầu bảo hộ trong Bằng độc quyền sáng chế
Kiểu dáng công nghiệpSản xuất, bán, nhập khẩu sản phẩm mang kiểu dáng trùng hoặc không khác biệt đáng kể so với kiểu dáng được bảo hộBộ ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng trong văn bằng bảo hộ
Nhãn hiệuGắn, sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà không được phépMẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký

Vì việc đánh giá yếu tố xâm phạm mang tính chuyên môn, trong nhiều vụ việc chủ thể quyền nên yêu cầu tổ chức có chức năng thực hiện giám định sở hữu trí tuệ. Kết luận giám định không phải là quyết định xử lý, nhưng là nguồn tham khảo có giá trị để các cơ quan chức năng và tòa án xem xét, đồng thời giúp chủ thể quyền củng cố căn cứ trước khi hành động.

Các trường hợp không bị coi là xâm phạm quyền

Không phải mọi việc sử dụng đối tượng đang được bảo hộ đều là xâm phạm. Pháp luật quy định các giới hạn và ngoại lệ nhằm cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền và xã hội. Nếu hành vi thuộc các trường hợp này thì không bị coi là xâm phạm, dù không có sự cho phép của chủ thể quyền.

Có thể kể đến một số nhóm tiêu biểu. Với quyền tác giả, đó là các trường hợp sử dụng hợp lý tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép, không phải trả tiền, như trích dẫn hợp lý nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy, với điều kiện không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây phương hại đến quyền của tác giả. Với sáng chế, đó là quyền sử dụng trước của người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế một cách độc lập trước ngày nộp đơn. Ngoài ra, nguyên tắc hết quyền sau lần bán đầu tiên cho phép lưu thông sản phẩm đã được chủ thể quyền hoặc người được phép đưa ra thị trường. Đây chỉ là các ví dụ tổng quát; việc áp dụng cụ thể cần đối chiếu điều kiện của từng trường hợp.

Câu hỏi thường gặp

Sử dụng lại một dấu hiệu tương tự nhãn hiệu người khác có luôn là xâm phạm không?

Không phải luôn luôn. Cần xem dấu hiệu đó có trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đang được bảo hộ hay không, có dùng cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự hay không, và người sử dụng có được phép hay thuộc ngoại lệ hay không. Chỉ khi hội đủ các căn cứ thì mới bị coi là xâm phạm.

Sản phẩm hết thời hạn bảo hộ sáng chế thì sử dụng có bị xem là xâm phạm?

Khi Bằng độc quyền sáng chế đã hết hiệu lực, giải pháp kỹ thuật đó thuộc về công chúng và mọi người có thể tự do sử dụng. Do không còn quyền đang có hiệu lực, không có cơ sở để kết luận hành vi xâm phạm đối với chính sáng chế đã hết hạn đó.

Đăng tải lại tác phẩm trên mạng có được coi là hành vi xảy ra tại Việt Nam không?

Hành vi trên môi trường internet nhưng nhằm tới người tiêu dùng hoặc người dùng tại Việt Nam được coi là xảy ra tại Việt Nam. Vì vậy việc đăng tải lại tác phẩm cho công chúng Việt Nam mà không được phép vẫn có thể bị xem xét là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Giám định sở hữu trí tuệ có bắt buộc không?

Giám định không bắt buộc trong mọi trường hợp, nhưng rất nên thực hiện. Kết luận giám định giúp chủ thể quyền có căn cứ chuyên môn về yếu tố xâm phạm, thuận lợi hơn khi làm việc với cơ quan chức năng hoặc khởi kiện. Đây là nguồn tham khảo, không thay thế quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Xác định được hành vi xâm phạm rồi thì làm gì tiếp theo?

Sau khi xác định hành vi xâm phạm, chủ thể quyền có thể lựa chọn biện pháp phù hợp: gửi thư cảnh báo yêu cầu chấm dứt, yêu cầu xử lý bằng biện pháp hành chính, khởi kiện dân sự để yêu cầu chấm dứt và bồi thường, hoặc đề nghị xử lý hình sự trong trường hợp nghiêm trọng theo quy định.

Kết luận

Xác định đúng hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là bước nền tảng để lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp, dù là dân sự, hành chính hay hình sự. Muốn kết luận chính xác, cần đánh giá đồng thời bốn căn cứ theo Nghị định 65/2023/NĐ-CP, đối chiếu yếu tố xâm phạm với phạm vi bảo hộ của từng đối tượng, và cân nhắc yêu cầu giám định để củng cố cơ sở. Nếu bạn đang nghi ngờ quyền của mình bị xâm phạm và cần đánh giá, thu thập chứng cứ hoặc lựa chọn phương án xử lý, đội ngũ LTV Law sẵn sàng trao đổi cùng bạn qua trang dịch vụ xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ, hoặc xem thêm các dịch vụ khác của chúng tôi.

hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệyếu tố xâm phạmvi phạm nhãn hiệuvi phạm bản quyềnNghị định 65/2023

Cần luật sư hỗ trợ?

LTV Law tư vấn và thực hiện trọn gói cho bạn.

ZALOGỌI